Carvedilol-25 mg Viên nén

Số đăng ký:
Dạng bào chế: Viên nén
Quy cách đóng gói: Hộp
Công ty đăng ký: A Q Pharmaceuticals, Inc.
Thành phần:
  • Carvedilol: 25mg
  • Chỉ định:
    Điều trị cao huyết áp vô căn nhẹ đến vừa. Điều trị phối hợp với pháp đồ tiêu chuẩn cho triệu chứng suy tim nhẹ đến vừa thể ổn định có nguồn gốc thiếu máu cục bộ hoặc bệnh cơ tim. Carvedilol đã được sử dụng ở bệnh nhân không thể dung nạp thuốc ức chế men chuyển và cũng được sử dụng ở bệnh nhân không dùng thuốc digitalis.
    Chống chỉ định:
    Mẫn cảm với Carvedilol. Carvedilol chống chỉ định cho bệnh nhân bị co thắt phế quản hoặc hen, hoặc ở bệnh nhân có tiền sử bị bệnh nghẽn đường thở, viêm phế quản và bệnh đường hô hấp mãn tính.
    CARVEDILOL chống chỉ định trong các tình trạng sau: blốc nhĩ thất độ 2 và độ 3, nhịp tim chậm nghiêm trọng (50 nhịp/phút), suy tim thể mất bù loại IV theo Hiệp hội Tim NewYork (NYHA) cần phải có hỗ trợ co cơ bằng đường tĩnh mạch, sốc tim, hội chứng yếu xoang (bao gồm chặn xoang nhĩ), tổn thương chức năng gan, nhiễm acid chuyển hóa, bệnh mạch vành và hiện tượng Raynaud. Carvedilol không được kê cho bệnh nhân có bệnh dị ứng liên quan đến đường thở, ví dụ viêm mũi dị ứng hoặc phù thanh môn. Carvedilol không được dùng trong thời kỳ mang thai và cho con bú.
    Chú ý đề phòng:
    Carvedilol chỉ được dùng cho bệnh nhân suy tim xung huyết sau khi đã có kiểm soát lâm sàng đầy đủ, và chỉ được dùng với sự cẩn trọng cao, đặc biệt nếu suy tim đang được điều trị bằng digitalis, thuốc lợi tiểu và/hoặc thuốc ức chế men chuyển ACE.
    Trước khi tăng liều, bệnh nhân phải được đánh giá các triệu chứng của bệnh suy tim hoặc giãn mạch. Suy tim thể nhẹ và bị ứ dịch có thể được điều trị bằng cách tăng liều thuốc lợi tiểu. Có thể phải giảm liều CARVEDILOL hoặc tạm thời ngừng dùng carvedilol trong một số trường hợp. Nếu ngừng điều trị trong vòng hai tuần hoặc lâu hơn thì phải bắt đầu điều trị lại với mức liều 3,125 mg hai lần/ngày trong hai tuần và sau đó tăng liều theo hướng dẫn liều lượng đã khuyến cáo..
    Điều quan trọng bậc nhất là trước khi gây mê phải thông báo cho chuyên viên gây mê về việc bệnh nhân đang dùng thuốc chẹn beta. Phải ngừng dùng Carvedilol 48 giờ trước khi gây mê. Nếu không thể thực hiện được điều này, cần phải dùng thuốc như atropin để ngăn tăng trương lực dây thần kinh phế vị.
    Trong giai đoạn phẫu thuật, thông thường việc giảm liều đến mức bệnh nhân quen dùng là không khôn ngoan, do có thể gây nguy hiểm làm trầm trọng hơn chứng đau thắt ngực hoặc tăng huyết áp. Đáp ứng nhịp tim nhanh ở bệnh nhân với việc giảm dung lượng máu hoặc mất máu có thể xảy ra trong và sau phẫu thuật. Cần thận trọng đặc biệt vì lý do này..
    An toàn trong khi điều trị kéo dài chưa được thiết lập.
    Các phản ứng phụ thường phổ biến hơn với bệnh nhân mất bù thận và ở bệnh nhân dùng thuốc đường tiêm tĩnh mạch.
    Cần giảm liều ở bệnh nhân cao tuổi, hoặc ở bệnh nhân suy giảm chức năng thận.
    Ngừng thuốc đột ngột có thể làm trầm trọng thêm chứng đau thắt ngực ở bệnh nhân bị bệnh thiếu máu tim cục bộ. Cần ngừng thuốc từ từ (trong khoảng 1-2 tuần) và bệnh nhân phải được khuyến cáo hạn chế mức độ các hoạt động thể lực trong giai đoạn ngừng thuốc.
    Bệnh nhân bị u tế bào ưa crom cần phải đồng thời điều trị bằng thuốc chặn alpha-adrenoceptor.
    Không có kinh nghiệm lâm sàng trong việc dùng Carvedilol cho bệnh nhân bị đau biến thể Prinzmetal. Cần thận trọng do Carvedilol có thể gây đau ngực ở bệnh nhân nghi ngờ có bệnh này.
    Carvedilol có thể gây chậm nhịp tim. Cần giảm liều nếu mạch xuông dưới 55 nhịp/phút.
    Các triệu chứng sớm của hạ đường huyết cấp có thể xuất hiện khi điều trị bằng Carvedilol. Cần thận trọng khi kê đơn Carvedilol cho bệnh nhân tiểu đường. Có thể cần giảm liều thuốc chống tiểu đường hoặc insulin.
    Các triệu chứng của tăng năng tuyến giáp có thể tăng lên do Carvedilol.
    Khi bị chóng mặt hoặc các triệu chứng tương tự, bệnh nhân cần được khuyến cáo không lái xe hoặc vận hành máy móc.
    Cần phải thông báo cho người đeo kính áp tròng về việc giảm tiết nước mắt. Bệnh vảy nến có thể bị nặng lên. Bệnh nhân có tiền sử bị phản vệ với một kháng nguyên có thể dễ bị phản ứng hơn với việc tiếp xúc kháng nguyên đó khi đang dùng Carvedilol.
    Lúc có thai:
    Carvedilol không được dùng trong thời kỳ có thai và cho con bú (xem “CHỐNG CHỈ ĐỊNH”). Dùng thuốc cho phụ nữ mang thai ngay trước khi sinh hoặc trong khi chuyển dạ có thể làm sinh ra trẻ sơ sinh bị giảm trương lực, hạ đường huyết.
    Tương tác thuốc:
    Cảnh báo: Cần thận trọng khi bệnh nhân chuyển thuốc từ thuốc đang dùng clonidin. Việc ngừng thuốc clonidin có thể dẫn đến việc giải phóng lượng lớn catecholamin, từ đó có thể dẫn đến cơn tăng huyết áp. Nếu Carvedilol được dùng trong các trường hợp đó, việc kích thích thụ thể alpha không có sự đối lập có thể làm tăng tác dụng này. Nếu Carvedilol và clonidin được dùng đồng thời, không được ngừng thuốc clonidin cho đến vài ngày sau khi ngừng dùng Carvedilol, do có thể xảy ra tăng huyết áp nghiêm trọng. Carvedilol dùng đồng thời với các thuốc sau: thuốc hạ đường huyết, phenothiazin và các thuốc chống loạn nhịp có thể gây ra tương tác thuốc với nguy cơ có thể nguy hiểm đến tính mạng.
    Chú ý đặc biệt: Có thể cần thiết phải điều trị bằng digitalis cho bệnh nhân dùng thuốc chặn beta thời gian dài nếu suy tim xung huyết có nguy cơ phát triển. Việc kết hợp này có thể phải cân nhắc bất chấp khả năng làm giảm nhịp của hai thuốc này.
    Kiểm soát cẩn thận liều dùng và đáp ứng của từng bệnh nhân (và nhất là tốc độ mạch) là rất cần thiết trong tình huống này.
    Carvedilol cần tránh không dùng đồng thời với các thuốc chẹn kênh calci như verapamil và diltiazem.
    Tác dụng hạ huyết áp của carvedilol bị đối kháng bởi các thuốc chống viêm không steroid (NSAIDS).
    Carvedilol có thể làm tăng tác dụng của thuốc chữa tiểu đường như insulin hoặc sulphonylurea.
    Các thuốc làm dịu cơ tim, bao gồm thuốc chống loạn nhịp như disopyramid, procainamid, lignocain và phenytoin, có thể có tác dụng làm giảm co cơ ở tim và do đó có thể làm tăng thời gian dẫn truyền nhĩ thất khi dùng cùng với Carvedilol.
    Các thuốc ức chế enzym như quinidin có thể ảnh hưởng đến chuyển hóa và dược động học của Carvedilol.
    Reserpin và các thuốc khác có khả năng làm suy yếu các catecholamin, cũng như các thuốc chặn adrenergic neuron, như guanethidin và bethanidin, có thể gây ra hạ huyết áp và chậm nhịp tim nghiêm trọng.
    Các thuốc kích thích beta-adrenoreceptor, như isoprenalin, làm giảm tác dụng của carvedilol. Các thuốc kích thích alpha-adrenoreceptor như noradrenalin và các thuốc kích thích hỗn hợp alpha- và beta-adrenoreceptor, như adrenalin, có thể làm tăng tác dụng co mạch ngoại biên của carvedilol và làm đảo ngược tác dụng hạ huyết áp. Rifampicin có thể làm giảm khả dụng hệ thống của Carvedilol.
    Phải theo dõi nồng độ Digoxin khi thay đổi liều carvedilol.
    Dùng thuốc đồng thời với cimetidin có thể làm tăng sinh khả dụng hệ thống của Carvedilol thêm 30%, nhưng không có tác dụng trên Cmax.
    Hydralazin và rượu có thể làm tăng nồng độ carvedilol trong huyết tương do làm chậm chuyển hóa ở gan của Carvedilol.
    Tác dụng ngoài ý:
    Rối loạn máu và hệ bạch huyết:
    Ít gặp: Giảm tiểu cầu, mất bạch cầu hạt.
    Các tác dụng phụ sau đã được báo cáo nhưng tần suất chưa biết: xuất huyết không giảm tiểu cầu, tăng bạch cầu ưa eosin tạm thời.
    Rối loạn nội tiết:
    Các tác dụng phụ sau đã được báo cáo nhưng tần suất chưa biết: hạ đường huyết, tăng đường huyết.
    Rối loạn tâm thần:
    Ít gặp: Trầm cảm.
    Các tác dụng phụ sau đã được báo cáo nhưng tần suất chưa biết: loạn tâm thần hiển nhiên.
    Rối loạn hệ thần kinh:
    Thường gặp: mệt mỏi, chóng mặt, dị cảm.
    Ít gặp: đau đầu, khó ngủ.
    Các tác dụng phụ sau đã được báo cáo nhưng tần suất chưa biết: khó chịu, mơ ngủ nhiều và ác mộng, ảo giác, lú lẫn và bị bệnh thần kinh ngoại vi.
    Rối loạn mắt:
    Ít gặp: giảm tiết nước mắt, nhìn mờ.
    Các tác dụng phụ sau đã được báo cáo nhưng tần suất chưa biết: đau mắt.
    Rối loạn tim mạch:
    Thường gặp: chậm nhịp tim rõ rệt và hạ huyết áp, đau ngực, phù toàn thân và ngất. Blốc có thể xảy ra ở bệnh nhân có bệnh rối loạn tim.
    Các tác dụng phụ sau đã được báo cáo nhưng tần suất chưa biết: làm trầm trọng thêm bệnh mạch ngoại biên hoặc có thể xuất hiện hiện tượng Raynaud (do kích hoạt không đối lập thần kinh giao cảm thuộc động mạch nhỏ). Bệnh mạch ngoại biên trầm trọng và thậm chí hoại thư ngoại biên có thể xảy ra. Suy tim xung huyết.
    Rối loạn hô hấp, ngực và trung thất:
    Thường gặp: khó thở.
    Ít gặp: viêm hầu họng, viêm mũi.
    Các tác dụng phụ sau đã được báo cáo nhưng tần suất chưa biết: co phế quản có thể xảy ra ở bệnh nhân bị hen, viêm phế quản và các bệnh phổi mãn tính khác. Viêm phổi khu trú, xơ hóa phổi và viêm màng phổi.
    Rối loạn tiêu hóa:
    Thường gặp: ỉa chảy.
    Ít gặp: Co cứng bụng, nôn, buồn nôn.
    Các tác dụng phụ sau đã được báo cáo nhưng tần suất chưa biết: táo bón.
    Rối loạn gan mật:
    Ít gặp: tổn thương gan.
    Rối loạn da và mô mềm dưới da:
    Ít gặp: tăng tiết mồ hôi.
    Các tác dụng phụ sau đã được báo cáo nhưng tần suất chưa biết: phản ứng dị ứng ngoài da và rụng tóc có hồi phục. Làm bệnh vảy nến nặng hơn.
    Rối loạn cơ xương và mô liên kết:
    Thường gặp: đau lưng.
    Ít gặp: bệnh cơ, bao gồm bệnh co cứng cơ. Đau khớp.
    Các tác dụng phụ sau đã được báo cáo nhưng tần suất chưa biết: yếu cơ xương.
    Rối loạn thận và đường niệu:
    Ít gặp: huyết niệu.
    Các tác dụng phụ sau đã được báo cáo nhưng tần suất chưa biết: Suy giảm chức năng thận ở bệnh nhân bị suy tim xung huyết.
    Rối loạn hệ sinh sản và ngực:
    Các tác dụng phụ sau đã được báo cáo nhưng tần suất chưa biết: bất lực.
    Rối loạn chung:
    Ít gặp: sốt.
    Liều lượng:
    Tăng huyết áp vô căn:
    NGƯỜI LỚN:
    Liều khởi đầu: 6,25 mg; hai lần/ngày, trong 1 đến 2 tuần
    Liều duy trì: 12,5 mg; hai lần/ngày.
    hoặc
    Liều khởi đầu: 12,5 mg; một lần/ngày, trong 2 ngày
    Liều duy trì: 25 mg; một lần/ngày.
    Ở mức liều cao hơn 25 mg, khả năng gặp tác dụng phụ tăng lên đáng kể trong khi hiệu quả chỉ tăng rất ít.
    NGƯỜI GIÀ:
    Liều thường dùng: 12,5 mg; một lần/ngày
    Nếu cần thiết có thể tăng liều theo khả năng dung nạp, với khoảng cách ít nhất 2 tuần, tăng lên tới 25 mg, một lần/ngày hoặc chia thành nhiều liều.
    Suy tim (kết hợp với phác đồ chuẩn):
    Để giảm trường hợp gặp tác dụng thể đứng, CARVEDILOL phải được uống cùng thức ăn để làm chậm tốc độ hấp thu. Sinh khả dụng của CARVEDILOL không bị ảnh hưởng bởi thức ăn. Khuyến cáo điều chỉnh liều theo từng cá thể bệnh nhân và theo dõi chặt chẽ bệnh nhân bởi nhân viên y tế có kinh nghiệm trong điều trị suy tim, trong quá trình chuẩn độ tăng liều. Bệnh nhân đang dùng thuốc digitalis, lợi tiểu và/hoặc thuốc ức chế men chuyển (ACE), cần phải được ổn định hóa trước khi dùng carvedilol.
    NGƯỜI LỚN:
    Liều khởi đầu: 3,125 mg hai lần/ngày trong hai tuần.
    Tăng lên: 6,25 mg hai lần/ngày trong hai tuần.
    Liều duy trì: 25 mg hai lần/ngày cho bệnh nhân <85 kg
    (liều tối đa).
    Tăng lên: 50 mg hai lần/ngày cho bệnh nhân >85 kg
    (liều tối đa).
    Phải có khoảng cách ít nhất hau tuần sau mỗi lần tăng liều. Trước khi tăng liều, bệnh nhân phải được đánh giá các triệu chứng của bệnh suy tim hoặc giãn mạch. Suy tim thể nhẹ và bị ứ dịch có thể được điều trị bằng cách tăng liều thuốc lợi tiểu. Có thể phải giảm liều CARVEDILOL hoặc tạm thời ngừng dùng carvedilol trong một số trường hợp. Nếu ngừng điều trị trong vòng hai tuần hoặc lâu hơn thì phải bắt đầu điều trị lại với mức liều 3,125 mg hai lần/ngày trong hai tuần và sau đó tăng liều theo hướng dẫn ở trên.
    Triệu chứng của giãn mạch (đau đầu, chóng mặt, hạ huyết áp thế đứng) có thể được kiểm soát ban đầu bằng cách giảm liều thuốc lợi tiểu.
    Nếu các triệu chứng tiếp tục kéo dài, liều thuốc ức chế men chuyển có thể phải giảm, tiếp theo là giảm liều CARVEDILOL, nếu cần. Tất cả các triệu chứng giãn mạch hoặc suy tim trầm trọng hơn phải được ổn định trước khi tăng liều carvedilol theo hướng dẫn liều đã gợi ý.